Giáo trình trung cấp phật học căn bản

Đồng bộ hóa nội dung giảng dạy nội điển, cung cấp kiến thức nền tảng cốt lõi về lời Phật dạy cho Tăng Ni sinh các trường Trung cấp Phật học

0 4
Giáo trình trung cấp phật học căn bản
Giáo trình Phật học căn bản
  • Lời giới thiệu

    LỜI NÓI ĐẦU

    Nhằm thống nhất chương trình giảng dạy tại các trường Trung cấp Phật học, Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương thành lập tiểu ban biên soạn sách giáo khoa để biên soạn giáo trình của chương trình cải cách giáo dục đã được nhất trí thông qua cuối nhiệm kỳ VI của Giáo hội. Dự kiến bộ giáo trình này khoảng 30 cuốn, gồm sau nhóm: Kinh, luật, luận, văn học, sử học và ngôn ngữ. Một cách tổng quát, phương thức biên soạn các môn thuộc kinh luật luận bao gồm sáu phần: phiên âm và dịch nghĩa; giải thích thuật ngữ; phân tích nội dung; ứng dụng thực tiễn; câu hỏi và thảo luận, bài và sách đọc thêm. Tuy nhiên, vì tính chất đặc thù của một số chủ đề, trật tự biên soạn trên cũng có thể được vận dụng một cách linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo được tính tổng thể của phương pháp biên soạn.

    Người tham gia biên soạn các bài học chủ yếu cung cấp những thông tin căn bản và chính xác từ kinh, luật, luật, từ điển đối với từng chủ đề và hạn chế tối đa sự bình luận và tư duy mang tính cá nhân. Mục đích của phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan và sự vận dụng sáng tạo, khai triển tư tưởng cho các giáo thọ.

    Phật Học Căn Bản là cuốn sách bao gồm các chủ đề Phật học mang tính phổ thông nhưng rất quan trọng được biên soạn. Khác với cách bố trí mang tính truyền thống xưa nay, trật tự của các chủ đề giáo lý được sắp đặt theo tinh thần từ dễ đến khó để người học dễ dàng tiếp thu. Ví dụ, thay vì các chủ đề quan trọng như Tứ Đế, Ngũ Uẩn, Tứ Nhiếp Pháp, Tứ Vô Lượng Tâm. Được trình bày ở phần đầu để giúp người học có được những kiến thức cơ bản trước khi tiếp nhận những chủ đề mang tính triết lý sâu sắc.

    Chắc chắn rằng sẽ có nhiều ý kiến về Bộ sách giáo khoa này; tuy nhiên như ngời xưa đã nói: “Vạn sự khởi đầu nan”; vì thế những thiếu sót là không thể tránh khỏi trong một công trình quan trọng và mang tính chuyên môn như thế này. Ban Giáo dục Phật giáo quan niệm các giáo trình đã và đang được biên soạn này là những công trình khởi đầu và mong chờ sự góp ý từ các nhà chuyên môn, nghiên cứu, đặc biệt là các nhà giáo trực tiếp giảng dạy chương trình này. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị sẽ là những tư liệu quý giá để giúp Ban Giáo dục hoàn thiện Bộ sách giáo khoa này.

    Vì sự nghiệp giáo dục của Phật giáo, Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương rất mong nhận được sự góp ý của chư ton đức Tăng Ni và quý Phật tử thiện tri thức.

    BAN GIÁO DỤC PHẬT GIÁO TRUNG ƯƠNG

     

    BẢNG VIẾT TẮT

    Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền: ĐTKVNNT

    Đại Tạng Kinh Việt Nam: ĐTKVN

    Hán: H

    Kinh Pháp Cú: KPC

    Kinh Tăng Chi Bộ: KTCB

    Kinh Tạp A Hàm: KTAH

    Kinh Tiểu Bộ: KTB

    Kinh Trung A Hàm: KTr.AH

    Kinh Trung Bộ: KT.B

    Kinh Trường A Hàm: KTAH

    Kinh Trường Bộ: KTr.B

    Kinh Tương Ưng Bộ: KTƯB

    Pali: P

    Phật Học Phổ Thông: PHPT

    Phật Quang Đại Từ Điển: PQĐTĐ

    Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam: VNCPHVN

  • Bài 1. Đạo Phật là gì?

    Đạo Phật là một trong những tôn giáo có lịch sử lâu đời nhất gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người. Sự xuất hiện của đạo Phật cách đây hơn 25 thế kỷ như là một nhu cầu tất yếu của lịch sử Ấn Độ nhằm đáp ứng lòng khát khao và mong mỏi một lý tưởng sống của con người thời bấy giờ. Đó là một hệ thống triết học và tư tưởng mới về nhân sinh quan và vũ trụ luận đã được khai mở qua sự chứng ngộ của một con người lịch sử, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo từng bước du nhập vào hầu hết các quốc gia trên thế giới, đồng thời đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, giáo dục, tâm linh của con người và những xứ sở mà đạo Phật hiện diện.

    “Đạo Phật” hay “Phật giáo” là danh từ được sử dụng một cách rộng rãi nhằm chỉ một tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và triết học châu Á nói riêng và toàn thể thế giới nói chung. Đặc biệt, trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, giáo lý của Phật giáo đã được con người của các nước có nền kinh tế, văn hóa tiên tiến và phát triển đón nhận một cách trân trọng.

    Thông thường, thuật ngữ “đạo” được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Trong phạm trù triết học, đạo được hiểu như là lý tánh tuyệt đối, là bản thể của vạn vật; trong ý nghĩa đạo đức, đạo là trách nhiệm, là bổn phận; trong lãnh vực lý tưởng sống, đạo có nghĩa là con đường, là cách sống; đạo trong ý nghĩa tôn giáo bao hàm ở nghĩa thứ ba.

    Phật hay Phật Đà là dịch âm của thuật ngữ Sanskrit: “Budha”: nghĩa là người giác ngộ, người hiểu biết hoàn toàn (giác giả). Một cách ngắn gọn, Phật là một danh từ chung để chỉ cho những ai đã chứng đắc giải thoát hoàn toàn bằng chính sự nỗ lực tu tập của tự thân và đem giáo lý giải thoát ấy làm lợi ích cho mọi loài. Như thế, bất cứ ai tự mình giác ngộ (tự giác) và giúp người khác giác ngộ (giác tha) đều được gọi là Phật: “một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện ấy đem lại hạnh phúc cho số đông, an lạc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích và hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác”.

    Cần lưu ý rằng, cũng là tôn giáo nhưng Phật giáo có những đặc điểm tư tưởng quan trọng, khác biệt với triết lý của hầu hết các tôn giáo. Thứ nhất, nếu phần lớn các tôn giáo trên thế giới xem niềm tin là điều kiện tiên quyết để tạo nên mối quan hệ giữa tín đồ và giáo chủ, đạo Phật lấy sự hiểu biết (trí tuệ) làm nền tảng mà không phải là một niềm tin thuần túy. Vì vậy, đạo Phật còn được biết là con đường tỉnh thức, hay con đường giác ngộ. Tôn chỉ hành động của Phật giáo là “duy tuệ thị nghiệp”. Hay “này các Tỳ kheo, ta nói rằng sự đoạn tận lậu hoặc là dành cho người biết và người thấy chứ không dành cho người không biết không thấy”. Thứ hai, nếu vai trò của thần linh, chúa trời, thượng đế, giáo chủ…là trung tâm của tôn giáo thì trong đạo Phật, con người là chủ nhân của chính mình và của thế giới, vì “ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Thứ ba, toàn bộ giáo lý Phật giáo là thành quả của sự tu tập, thực nghiệm của một con người, lịch sử thật sự mà không phải những lý thuyết thuần túy mang tính mặc định siêu hình, tưởng tượng do thánh thần hay thượng đế mặc khải. Con người lịch sử ấy là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

    Trước khi trở thành bậc giác ngộ tại bồ đề đạo tràng, đức Phật Thích Ca tên là Tất Đạt Đa, họ Cù Đàm, sống vào khoảng thế kỷ VI trước tây lịch. Tất đạt đa là thái tử của nước Cộng hòa Thích Ca với kinh đô là Ca tỳ la vệ, thuộc vùng Bắc Ấn. Thân phụ của ngài là vua Tịnh Phạn và thân mẫu là hoàng hậu Ma Da. Với bẩm chất thông minh và nhân hậu lại được nuôi dưỡng trong một môi trường lý tưởng, thái tử sớm chứng tỏ là một người có trí tuệ sáng suốt và có tài năng hơn người. Khi ở độ tuổi trưởng thành, thái tử kết hôn với một công nương xinh đẹp tên là Da du đà la và hai người đã có một người con trai tên là La hầu la. Dù được cung phụng tất cả những thứ xa hoa của cuộc sống và được thọ hưởng mọi sự lạc thú trong cuộc đời nhưng thái tử Tất Đạt Đa vẫn không cảm thấy bình an với cuộc sống vương giả; đặc biệt, sau khi trực tiếp tiếp xúc với đời thường và thấy rõ nỗi khổ, sanh, lão, bệnh, tử của kiếp người, thái tử quyết chí xuất gia, từ bỏ ngai vàng điện ngọc để làm một sa môn khổ hạnh lên đường tìm đạo.

    Suốt sau năm ròng rã tìm đạo học hỏi và thực hành giáo pháp với những vị thầy danh tiếng khép mình vào những pháp môn tu tập khổ hạnh nhất thời bấy giờ, Sa môn Cù Đàm vẫn không thỏa mãn với những thứ do giáo pháp ấy mang mại. Từ bỏ mọi thành quả đã gặt hái được, từ bỏ những tư tưởng và pháp môn mang tính truyền thống, Sa môn Cù Đàm quyết định lên đường tìm kiếm con đường tu tập riêng cho chính mình. Sau sự kiên trì nỗ lực của bản thân, vào năm 35 tuổi, đạo sĩ Cù Đàm đã giác ngộ được nguyên lý vận hành của con người và thế giới, thấy được sự thật về khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ tại bồ đề đạo tràng thuộc bang Bihar ngày nay. Từ đó ngài được tôn xưng là Phật với ý nghĩa là con người đã giác ngộ hoàn toàn. Từ giây phút thiêng liêng đó cho đến khi nhập niết bàn ở tuổi 80 tại rừng cây Ta la thuộc địa phận Câu Thi La. Đức Phật đã nên đường thuyết pháp độ sanh suốt 45 năm không ngừng nghỉ, ngài đã đem ánh sáng chánh pháp rọi soi cuộc đời, xây dựng lý tưởng sống, có khả năng đem đến an lạc và hạnh phúc cho con người ngay tại đây và bây giờ.

    Những lời dạy của Đức Phật được biên tập lại trong ba phần gọi là tam tạng bao gồm Kinh, luật và luận một cách tổng quát, kinh là những lời dạy của đức Phật thuyết giảng cũng như các bài pháp do các thánh đệ tử thuyết giảng mà được đức Phật ấn chứng. Luật là những nguyên tắc, những giới điều được Phật quy định nhằm hỗ trợ cho đời sống tu hành của chúng đệ tử tại gia cũng như xuất gia. Luận bao gồm những bộ sách, chủ yếu là chú thích và giảng giải một các rõ ràng và chi tiết lời Phật dạy để thích nghi với những yêu cầu mang tính tri thức, trình độ, văn hóa…của những con người khác nhau; tác giả của các bộ luận chủ yếu là những thánh đệ tử của đức Phật.

    Cần lưu ý rằng nội dung chính của giáo lý Phật giáo là chỉ cho con người thấy được bản chất của khổ và phương pháp đoạn diệt nó: “này các Tỳ kheo, suốt 45 năm thuyết pháp ta chỉ nói khổ và con đường diệt khổ” (kinh trung bộ). Đức Phật không thật sự trú trọng đến phần triết lý siêu hình hay việc tranh luận hơn thua với đời, bởi lẽ việc ấy không đưa đến an lạc, giải thoát cho cuộc đời. Quan điểm này được đức Phật chỉ rõ trong bài pháp “nắm lá Simsapa”, khi ngài cầm một nắm lá và hỏi các đệ tử: “Này các Tỳ kheo, các thầy nghĩ thế nào? Lá trong tay ta nhiều hơn hay lá trong rừng nhiều hơn. Bạch thế tôn, lá trong tay của thế tôn rất ít nhưng lá trong rừng Simsapa quả thật nhiều hơn rất nhiều. Cũng thế, này các Tỳ kheo, ta chỉ dạy các ông rất ít từ những gì ta đã chứng ngộ được; những gì ta không dạy các thầy là rất nhiều. Tại sao? Bởi vì nó không lợi ích…không đưa đến niết bàn”

    Quan trọng hơn thế nữa, lời phật dạy không chỉ để cầu nguyện và chờ đợi kết quả của công phu cầu nguyện ở kiếp sau, mà giáo lý của ngài có khả năng đưa đến kết quả tức thời cho những ai thực tập nó ngay trong cuộc sống: “Này các Tỳ Kheo, giáo pháp của ta là thiết thực hiện tại đến để mà thấy, không có thời gian, có khả năng hướng thượng được người trí tự mình chứng hiểu”. Đặc biệt giáo lý của Phật giáo được ví như một chiếc bè cho người ta sang sông; do vây, dù chiếc bè có tốt đến thế nào đi nữa thì khi đã sang sông rồi người ta cần phải để bè lại bên bờ sông chứ không phải ôm chặt chiếc bè. Cũng vậy, những pháp môn tu tập khác nhau của Phật giáo chỉ là phương tiện mục đích giúp cho con người tự mình ứng dụng nhằm đoạn trừ khổ đau của kiếp người, đồng thời đạt được lợi ích, an lạc, hạnh phúc trong chính cuộc sống này. Vì vậy, mọi so sánh cao thấp, lớn nhỏ, cực đoan, giáo điều, chấp thủ tư tưởng đều không đúng với di ngôn của đức Phật: “Này các Tỳ kheo, ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua không phải để nắm giữ lấy.

    Chư Tỷ kheo, các ông cần hiểu ví dụ cái bè…Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp”.

    Như một vị lương y tài giỏi xem bệnh bốc thuốc để cứu đời, trải qua hơn 45 năm truyền bá chánh pháp, đức Phật đã giáo hóa cho tất cả những ai có duyên với chánh pháp bằng một tâm không phân biệt, bao gồm mọi tầng lớp nam nữ, già trẻ giàu nghèo, tri thức, thường dân, vua chúa, quan lại. Giáo pháp của ngài đã giúp cho chúng sanh thấy được chân giá trị của con người và cuộc sống, giúp mọi người chọn lựa một lối sống đúng đắn, có thể đem đến lợi ích cho tự thân và tha nhân. Lời xưng tán sau đây có thể xem như là sự tri ân của những người thấm nhuần phật pháp: Thật vi diệu, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp cũng được tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày”.

    Trải qua gần 26 thế kỷ tồn tại và phát triển, con đường trung đạo của Phật giáo hay nghệ thuật sống này vẫn được xem là một trong những sự chọn lựa thông minh và hiệu quả nhất cho những ai thực sự mong muốn có một nếp sống an bình và hạnh phúc, bởi bì: “Thật hiếm nhân vật trong lịch sử tư tưởng nhân loại từng có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài như Đức Phật Siddhattha Gotama, và cũng không có ai từng để lại dấu ấn sâu đạm lên toàn châu Á như Ngài.

    Đạo giáo do Ngài sáng lập không chỉ đem lại nguồn an ủi cho vô số người mà còn cung cấp nền tảng học thuyết nhân bản cao thượng và một di sản văn hóa vô cùng tinh tế. Bài thuyết pháp đầu tiên do Đức Phật dạy tại vường Lộc Uyển, gần Banares, năm 528 trước Tây lịch là một sự kiện lớn đem lại những kết quả đầy lợi lạc liên tục mãi đến thời đại này”. Đặc biệt, theo nhà vật lý xuất sắc nhất của thế kỷ XX, Albert Eisntein, “Tôn giáo của mai sau là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả bình diện tự nhiên và siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức tâm linh tiềm tàng trong vạn vật tự nhiên lấy siêu nhiên như một sự hợp nhất có ý nghĩa. Phật giáo là một tôn giáo như thế, nếu có một tôn giáo nào có thể đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, tôn giáo ấy là Phật giáo”

    Câu hỏi hướng dẫn học tập:

    1. Đạo Phật là gì?

    2. Sự khác nhau giữa đạo Phật và các tôn giáo khác là gì?

    3. Tìm hiểu về giá trị thực tiễn của đạo Phật?

    4. Các nhà khoa học đã cảm nhận như thế nào về đạo Phật?

  • Bài 2: Tam bảo là gì?

    Sau khi đạt được những quả vị về thiền định dưới sự chỉ dạy của hai vị thầy uy tín nhất thời bấy giờ, trong quá trình tìm đạo, đạo sĩ Cù Đàm lại cùng năm anh em Kiều Trần Như trải qua quá trình tu tập khổ hạnh trong suốt sáu năm. Với sự nỗ lực và tinh tấn phi thường, ngài đã được các vị đồng tu tôn xưng là đệ nhất khổ hạnh và đệ nhất độc cư thiền định. Tuy nhiên, những gì chứng đắc được cho đến lúc này vẫn không giải quyết được mục đích giải thoát khổ đau mà Ngài hướng đến. Từ bỏ những pháp tu truyền thống, nương tựa vào chính kinh nghiệm tâm linh và trí tuệ của tự thân, sau 49 ngày thiền định dưới gốc cây Bồ Đề cuối cùng đạo sĩ Cù Đàm thấu triệt lý Duyên khởi, thấy rõ ngọn nguồn của khổ đau, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác và được tôn xưng là Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni với đầu đủ mười đức tánh (Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn).

    Sau bảy tuần thiền định để quan sát căn tánh chúng sinh và với sự thỉnh cầu của Phạm Thiên Sahampati, Đức Phật quyết định lên đường hoằng pháp độ sanh. Bài pháp đầu tiên được Ngài thuyết giảng tại Vườn Nai hay Chư tiên đọa xứ là Chuyển Vận Bánh Xe Pháp, và thường được gọi là Tứ Diệu Đế hay Tứ Thánh Đế.

    Năm anh em Tôn giả Kiều Trần Như, những bạn cùng tu khổ hạnh với Đức Phật, chính là những người đệ tử xuất gia đầu tiên của Ngài sau khi nghe bài pháp vi diệu này. Từ đây, ngôi Tam bảo được hình thành: Đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni là Phật bảo, Tứ Diệu Đế là Pháp bảo và năm vị Tỳ kheo là Tăng bảo.

    I. Định nghĩa:

    Tam bảo, gồm Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo, là thuật ngữ Phật học dùng để gọi chung cho ba ngôi báy ở thế gian. Ba đặc tánh này luôn có mặt trong nhau, tương tức tương nhập bởi các thuộc tính: Giác, chánh, tịnh và có công năng dẫn dắt chúng sinh đạt tới giác, chánh, tịnh.

    1. Phật, dịch âm là Phật đà, là bậc đại trí, đại bi, bậc giác ngộ trên cả ba phương tiện: tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Theo định nghĩa của kinh Trung bộ, “Phật là bấc Thế tôn, A la hán, Chánh đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Điều ngự trượng phu, Vô thượng sĩ, Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn”.

    2. Pháp, dịch âm là Đạt ma là từ dùng để chỉ cho lời dạy mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết trong suốt 45 năm truyền giáo của Ngài, bao gồm ba tạng: Kinh, Luật và Luận. Tính chất đặc biệt của pháp là “Pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu”.

    3. Tăng, dịch âm là Tăng già, tên gọi khác là hòa hợp chúng. Đây là khái niệm dùng để chỉ chung cho đoàn thể của những người xuất gia tu học theo giáo pháp của Đức Phật, gồm ít nhất 4 vị Tỳ kheo (hay Tỳ kheo ni) trở lên. Theo lời dạy của Đức Phật, đặc tính của Tăng-già Phật giáo là “Diệu hạnh là chúng tăng, đệ tử Thế Tôn; trực hạnh là chúng tăng, đệ tư Thế Tôn; như lý hạnh là chúng tăng, đệ tử Thế Tôn; chánh hạnh là chúng tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng tăng, đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”

    II. Giải thích thuật ngữ

    Ý nghĩa “Có mặt trong nhau, tương tức tương nhập” của Phật, Pháp, Tăng: là một ý nghĩa quan trọng trong khái niệm Tam bảo; vì trong Phật có Pháp và Tăng; trong Pháp có Tăng và Phật; trong Tăng có Phật và Pháp. Các thiền sư còn gọi sự tương tức tương nhập này bằng thuật ngữ quen thuộc là “tam vị nhất thể”, bởi vì bản chất của Phật là Pháp và Tăng. Nhìn vào một thân chúng ta thấy hai thân khác; đây là giáo lý tương tức giữa Tam bảo, gọi là tam vị nhất thể, tức là ba ngôi cùng một thể tính.

    Như thế, về mặt hình thức, Tam bảo đồng thời và chính thức được thiết lập từ thời pháp đầu tiên của đưc Thế Tôn; ở đó gồm ba yếu tố: người nói pháp (Đức Phật), bài pháp được nói (hình thành nên Pháp bảo), đối tượng nghe pháp (hình thành nên Tăng bảo).

    Đức Phật có mười hiệu, mỗi danh hiệu tôn xưng một đặc tính hay một địa vị chứng ngộ khác nhau của Đức Phật:

    Như Lai: Người đã đến như thế, người đã đến từ cõi Chân như.

    Ứng cúng: Người đáng được cúng dường, đáng được tôn kính.

    Chánh Biến Tri: Người hiểu biết đúng tất cả các pháp.

    Minh Hạnh Túc: Người có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh.

    Thiện Thệ: Người đã đi, đã khéo vượt qua tất cả một cách tốt đẹp.

    Thế Gian Giải: Người đã thấu hiểu thế giới.

    Vô Thượng Sĩ: Đấng tối cao, không ai vượt qua.

    Điều Ngự Trượng Phu: Người đã điều phục được mình và nhân loại.

    Thiên Nhân Sư: Bậc thầy của cõi người và cõi trời.

    Phật Thế Tôn: Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính.

    Cần lưu ý rằng, tự bản than mỗi danh hiệu đã bao gồm đặc tánh của các danh hiệu khác; chỉ cần gọi tên một trong mười danh hiệu: Như Lai, Bậc Thiện Thệ, Thế Tôn Phật, Thiên Nhân Sư, Thế Gian Giải, Ứng Cúng, Minh Hạnh Túc, Điều Ngự Trượng Phu, Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ thì đã thâu nhiếp các danh hiệu khác.

    Trung Bộ kinh nêu một định nghĩa về Pháp đầy đủ với 6 nghĩa: Trước hết, Pháp do Thế Tôn khéo thuyết giảng. Thế Tôn luôn dựa trên căn tánh, cơ duyên chúng sanh mà nói. Pháp được khai triển, hiện hữu giữa cuộc đời vị khổ đau có mặt. Pháp để thực hành, tu tập và chứng ngộ để thoát khỏi khổ đau. Tất cả chỉ vì một mục đích là đem lại hạnh phúc, an lạc, giải thoát cho những ai học pháp, hành pháp và an trú trong pháp. Đây chính là ý nghĩa của lời dạy “pháp thiết thực hiện tại”.

    Pháp gồm vô lượng pháp môn nhưng “chỉ có một vị là vị giải thoát”; Pháp do Đức Phật nói nhưng vốn “pháp là mẹ của ba đời chư Phật”. Chư Phật ba đời đều thấy như vậy, đều tu như vậy, đều nói pháp như vậy. Vậy nên, tính chân lý của pháp không hạn cuộc quá khứ, hiện tại, tương lai, không có thời gian, siệu việt thời gian.

    Đặc tính của lời Phật dạy là phải ứng dụng và hành trì mới cảm nhận được vị giải thoát của pháp. Đây là ý nghĩa lời Phật dạy: “Như cái muỗng mục thuốc, chẳng bao giờ biết được mùi vị của thuốc” và “pháp của Ta đến để mà thấy”, tự mình thực tập và tự mình đạt ngộ. Do vậy, “Pháp là con đường hành trì, con đường diệt khổ, con đường chuyển hóa”, không phải để hý luận.

    Nhờ tu tập theo lời dạy của Phật mà khổ đau chấm dứt, an lạc, giải thoát hiện hữu. Pháp là con đường diệt khổ hữu hiệu. Chúng sinh dù đầy dẫy sân si, phiền não và tập khí xấu ác nhưng nếu biết nương nhờ pháp thì có thể vượt thoát sanh tử, được vui Niết-bàn…Do vậy, pháp có khả năng hướng thượng, “có tác dụng phát triển về tâm và tuệ”. Và, pháp được người có trí chứng hiểu, tức là “chỉ có trí tuệ dẫn dắt công phu thực hành thì hành giả mới có thể giải thoát khổ”.

    Theo Trung Bộ Kinh, Tăng là gồm những ai “thành tựu lòng tin tuyết đối đối với Phật, thành tựu lòng tin tuyệt đối với Pháp, thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tăng”, là đệ tử của Thế Tôn với bốn đôi tám vị với những đặc tính sau:

    Diệu hạnh: Hạnh lành, luôn tăng trưởng các pháp thiện, luôn giữ gìn đầy đủ oai nghi tế hạnh của một người tu sĩ.

    Trực hạnh: Tâm hạnh chất trực, thẳng thắn.

    Như lý hạnh: Ứng hợp với trí tuệ. Ba nghiệp thân, miệng, ý dù móng khởi, tác ý hay hành động đều như chánh pháp.

    Chánh hạnh: Phạm hạnh thanh tịnh.

    Thành tựu bốn hạnh trên là đủ nghĩa của chúng tăng, là dệ tử Thế Tôn. Thành tựu các hạnh lành này là xứng đáng được cung kính, cúng dường, đáng được chắp tay, được ví là ruộng có điều kiện tốt nhất ở đời cho những thiện lành của chúng sinh gieo trồng dễ sinh trưởng và đơm hoa kết trái; thành tựu các đức hạnh trên thì hạt giống Phật bất tuyệt, chánh pháp được hoằng dương, chúng Tăng hưng thịnh…

    Vậy nên, Tam bảo luôn tồn tại trong nhau, cùng nhau và cho nhau, không thể tách rời, không thể thiết lập sự hiện hữu riêng lẻ. Nhìn kỹ vào lịch sử Phật giáo, chúng ta thấy, nếu tạm thời đồng ý với sự phân chia của ba thời: chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp thì vai trò quan trọng của Phật, pháp, tăng được lần lượt thay thế dể xiển dương chánh pháp giữa thế gian.

    II. Phân tích nội dung:

    Thế nào là quy ý Tam bảo?

    Theo Từ điển Phật học của Đoàn Trung Còn, Quy y Tam bảo là nương tựa mình theo ba ngôi báu, gồm Phật, Pháp, Tăng. Về sự, quy y Tam bảo có nghĩa là nương tựa và Đức Phật, vào giáo pháp và vào tăng chúng. Về lý, quy y tam bảo nghĩa là nương theo tánh giác ngộ của mình, nương theo sự chân chánh, không theo tà kiến; nương theo đức tánh thanh tịnh, không nhiễm trược, không chấp nệ, Như vậy, Phật tức là Giác, Pháp tức là Chánh, Tăng tức là Tịnh.

    Ba hình thức khác nhau của Tam bảo:

    Đồng thể Tam bảo: Đồng thể Phật bảo (tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng thể tánh: Giác); Đồng thể Pháp bảo (chúng sanh cùng chư Phật đồng một pháp tánh bình đẳng: Chơn chánh…); Đồng thể Tăng bảo (chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh thanh tịnh, hòa hợp).

    Xuất thế gian Tam bảo: Xuất thế gian Phật bảo (chỉ cho ba đời chư Phật: Quá khứ, hiện tại, vị lai); Xuất thế gian Pháp bảo (chỉ cho chánh pháp của Phật như Tứ Đế, Duyên khởi); Xuất thế gian Tăng bảo (chỉ cho các vị tăng đã ra khỏi sự ràng buộc của thế gian), như tôn giả Xá-lợi-phất, A-nan…

    Thế gian trụ trì Tam bảo: Thế gian trụ trì Phật bảo (Xá lợi Phật, hình tượng Phật nói chung); Thế gian trụ trì Pháp bảo (tam tạng kinh điển được khắc, đắp, in); Thế gian trụ trì Tăng bảo (hàng xuất gia đệ tử Phật gồm chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni).

    Tam bảo có những sự tướng khác nhau như thế nên quy y Tam bảo cũng có nghĩa là tôn kính, thực hành đủ sự lý tương ưng đó. Quy y đồng thể Tam bảo thì phải tôn trọng tự tánh Phật, pháp, tăng nơi chính mình; nghĩa là trau dồi Phật tánh, hiển lộ Pháp tánh và giữ gìn Tăng tánh thanh tịnh, hòa hợp. Quy y xuất thế gian Tam bảo có nghĩa là đối với ba đời chư Phật, giáo pháp do các ngài đã tuyên thuyết và chư vị Bồ-tát, thánh tăng; chúng ta phải một lòng tôn kính, khát ngưỡng. Quy y thế gian trụ trì Tam bảo có nghĩa là chúng ta phải tôn kính, phụng thờ tranh tượng Phật, kinh sách và hộ trì chư Tăng Ni.

    Quy y Tam bảo đúng nghĩa phải gồm đủ: Tam bảo của tự tánh mỗi người, Tam bảo được thiết lập lâu xa trong quá khứ (xuất thế gian Tam bảo) và Tam bảo hiện có trên thế gian (Thế gian trụ trì Tam bảo). Hiểu đầu đủ như thế thì chỗ quay về nương tựa mới thực sự là chỗ nương tựa hướng thượng, chơn chánh và thiết thực với căn tánh mỗi người.

    III. Ứng dụng thực tiễn:

    Cuộc sống con người luôn chứa đựng nhiều đau khổ, bất an. Bao lâu con người còn trôi lăn trong đau khổ, bất an. Tam bảo là chốn nương tựa và là con đường hướng thượng vững chắc thì như hành trình đã có định hướng, có đích đến sẵn rồi.

    Chốn nương tựa gồm bên trong (tự lực) và bên ngoài (trợ lực, tha lực). Sự, lý phải gồm đủ. Tam bảo ở bên ngoài ta, là đối tượng tu tập của ta nhưng quan trọng là Tam bảo ở trong tâm. Tự quy y Tam bảo chính là quay về nương tựa vào tự tánh giác, chánh, tịnh của tự tánh Tam bảo trong tâm. Do vậy, phải xác định cho được đâu là Tam bảo, đâu là trá danh Tam bảo để không oan uổng cho sự gửi gắm, nương tựa trọn vẹn của một kiếp làm người. Vì vậy tổ đức dạy rằng: “Tăng đoàn từ bốn người trở lên gọi là Sangha, nhưng Tăng đoàn đôi khi chỉ mới là hình thức: có đắp y, có ngồi thiền, có đi thiền hành, có ăn cơm im lặng, có tụng giới. Đôi khi hình thức nặng, và nội dung còn nghèo nàn. Nếu ta tiếp xúc với Tăng đoàn mà thấy Pháp và Bụt rất ít, đó là vì Tăng thân còn nhẹ về nội dung. Khi Tăng đoàn thực sự hộ trì sáu căn, thực tập chánh niệm, trở thành chân Tăng thì Tăng đoàn sẽ biểu dương được Bụt và Pháp. (…) Chân Phật luôn có Pháp và Tăng làm bản chất; chân Pháp luôn có Bụt và Tăng làm bản chất; chân Tăng luôn có Bụt và Pháp làm bản chất. Chúng ta tu tập thế nào để cho ba viên ngọc quý đó càng ngày càng sáng tỏ trong tự tâm của chính chúng ta”.

    Vì vậy, Tam bảo không chỉ để tôn thờ, lễ lạy mà phải thực hành, ứng dụng vào cuộc sống. Thờ Phật là để tiếp xúc với chính tánh giác trong mỗi chúng ta; mỗi niệm nhớ nghĩ tới Phật phải là một niệm tỉnh giác, tôn thờ thánh giác, nuôi dưỡng tính giác trong tâm và có tâm nguyện đem ánh sáng của giác ngộ đến với người hữu duyên xung quanh chứ không phải để Phật trở thành đấng thần linh đem lại lợi lộc cho mình thừa hưởng.

    Nương tựa pháp là phải luôn hướng đến tính chất cao thượng của pháp, phải cảm nhận được những giá trị tốt đẹp mà pháp đem lại cho mình, cho người. Bất cứ pháp nào không phải là phương tiện giải thoát, không đưa đến giải thoát, đó là tà pháp.

    Bản chất của Tăng là thanh tịnh và hòa hợp. Một tăng sĩ xứng đáng trong hàng ngũ “Tam bảo” là người luôn nỗ lực để thanh tịnh thân tâm, thực hành nghiêm túc nội quy tự viện đặt ra với thời khóa đầy đủ, giữ đúng giới luật đã thọ. Với trách nhiệm là “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, chư tăng phải luôn tinh tấn không ngừng trong việc truyền bá chánh pháp để lợi lạc quân sanh.

    Chư Tăng và Phật ử, chúng đệ tử tại gia và chúng đệ tử xuất gia của Thế Tôn, có mối quan hệ khăng khít với nhau trên cơ sở cùng quy y Tam bảo; nghĩa là, cùng vun bồi và chỉ vun bồi cho giác, chánh, tịnh. Tất cả đều vì sự trường tồn và hưng thịnh của Tam bảo: Phật tử hộ trì chư Tăng Ni vì đó là những bấc “mô phạm”, bậc “đống lương” của Phật và Pháp. Ngược lại, chư Tăng Ni phải luôn ý thức xây dựng Tăng chúng từ bản thân mình để xứng đáng là nơi quy ngưỡng của chúng sanh nói chung và Phật tử nói riêng. Hộ trì Tam bảo chính là gin giữ, phát huy vai trò của Tam bảo giữa thế gian, như lời tổ đức đã dạy “Phật pháp hưng long do chư Tăng hoằng hóa. Già lam hưng thạnh nhờ đàn việt phát tâm”.

    Cần lưu ý rằng Tam bảo tồn tại giữa thế gian là một diễm phúc lớn cho chúng sanh. Tam bảo luôn cùng nhau có mặt nhưng ở mỗi thời kỳ khác nhau, tuy nhiên vai trò chủ đạo, tầm quan trọng của một trong Tăng bảo mạng mạch Phật pháp là vô cùng quan trọng; vì Tăng hay Tăng đoàn hiện hữu là Tam bảo hiện hữu, đại diện Tam bảo để duy trì và tuyên dương chánh pháp. Nghĩa là, Phật bảo và Pháp bảo thể hiện nơi sự hòa hợp và thanh tịnh của Tăng, hay Tăng đoàn. Vậy nên, hơn bao giờ hết, khi Tam bảo hiện hữu trong hình thức Thế gian trụ trì Tam bảo thì Tăng bảo hiển nhiên mang trọng trách là “đống lương Phật pháp”. Nghĩa là, yếu tính giác ngộ của Phật bảo và yếu tính chơn chánh, hòa hợp, thanh tịnh từ hàng Tăng bảo để có thể tỏa sáng trên thế gian:

    “Hạnh phúc thay Đức Phật ra đời

    Hạnh phúc thay giáo pháp cao minh

    Hạnh phúc thay Tăng già hòa hợp

    Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu”

    Câu hỏi hướng dẫn học tập:

    1. Tam bảo là gì?

    2. Nêu các hình thức khác nhau của Tam bảo?

    3. Vì sao nói Tăng chúng là “phước điền vô thượng ở đời”?

    4. Phật, Pháp và Tăng có mối quan hệ tương tức, dung nhiếp lẫn nhau, có mặt trong nhau, hãy chứng minh.

    5. Vai trò của Tăng trong sự hưng thịnh và trường tồn của Tam bảo?

  • Bài 3: Tứ nhiếp pháp là gì?

    TỨ NHIẾP PHÁP

    Lời dạy “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” là bản nguyện của những người con Phật, đặc biệt là giới xuất gia, trưởng tử Như Lai. Nói một cách cụ thể hơn, người xuất gia có hai việc cần làm: tự độ và độ tha. Cần lưu ý rằng, đây là hai phạm trù không thể tách rời đối với những ai phát tâm đi trên con đường hướng đến giải thoát, giác ngộ; bởi vì tự lợi là trí tuệ, lợi tha là từ bi. Tuy nhiên, để có thể đạt đến mục đích cao đẹp này hành giả phải luôn biết ứn dụng một cách khéo léo và uyển chuyển lời Phật dạy trong quá trình tu tập và hành đạo của tự thân. Rõ ràng, yếu tố lợi tha giữ vai trò quan trọng trong đời sống tu tập của hành giả Phật giáo; nó vừa là phương tiện tu tập, vừa góp phần viên mãn quả vị, hoàn thành tự lợi.

    Tuy nhiên, để đem lại lợi lạc thật sự cho chúng sinh, sự nghiệp hoằng hóa của hành giả cần phải ứng dụng một cách linh hoạt nhiều giáo lý khác nhau tùy theo căn cơ và trình độ của mọi người. Có thể nói rằng giáo lý có công năng thu nhiếp và cảm hóa mọi người hiệu quả nhất là Tứ nhiếp pháp, vì như lời Đức Phật đã dạy: “Nếu như có pháp nào để nhiếp thủ đại chúng thì tất cả đề ở trong bốn nhiếp sự. Hoặc một nhiếp thủ là bố thí, hoặc một nhiếp thủ là ái ngữ, hoặc một nhiếp thủ là hành lợi, hoặc một nhiếp thủ là đồng lợi. Ở trong thời quá khứ, những pháp nào đã nhiếp thủ đại chúng trong thời quá khứ cũng không ngoài bốn nhiếp sự. Những pháp nào sẽ nhiếp thủ đại chúng trong thời vị lai cũng không ngoài bốn nhiếp sự”.

    I. Định nghĩa:

    Tứ nhiếp pháp là bốn cách sống có khả năng tạo ra sự đoàn kết, hòa hợp và lợi ích cho cuộc sống tập thể. Theo Phật Quang Đại Từ Điển, bốn phương pháp này được các vị Bồ-tát sử dụng để thu nhiếp chúng sinh khiến cho họ sinh khởi tâm thân ái mà dắt dẫn họ vào Phật đạo để đạt đến giác ngộ.

    Phạn ngữ là Catvari samgraha-vastuni, người Trung Hoa dịch là Tứ nhiếp pháp, Tứ nhiesp sự, Tứ tập vật; gọi tắt là Tứ nhiếp, Tứ sự hay Tứ pháp. Nhiếp có nghĩa là nhiếp phục, cảm hóa, nhiếp hóa; pháp là biện pháp, phương pháp, cách thức. Tứ nhiếp pháp là bốn cách thức cảm hóa, bốn phương pháp nhiếp phục, bốn biện pháp nhiếp hóa chúng sinh quay về với Phật pháp, bao gồm bố thí nhiếp, ái ngữ nhiếp, lợi hành nhiếp và đồng sự nhiếp.

    II. Giải thích thuật ngữ:

    Bố thí nhiếp với ý nghĩa là nhiếp hóa, cảm hóa người khác bằng phương thức bố thí: bố thí tài vật, bố thí pháp, bố thí sự không sợ hãi. Vì vậy, nó cũng được gọi là bố thí nhiếp sự hay bố thí tùy nhiếp phương tiện, tức dùng tâm vô trước để truyền đạt chân lý (pháp thí) và thí xả tài vật (vật thí).

    Ái ngữ nhiếp cũng gọi là năng nhiếp phương tiện ái ngữ nhiếp sự với ý nghĩa là nhiếp hóa, cảm hóa người khác bằng ái ngữ. Đó chính là sử dụng lời nói hòa ái, dễ nghe; lời nói khôn khéo, thành thực; là lời nói của sự hiểu biết và cảm thông…

    Lợi hành nhiếp cũng gọi là lợi ích nhiếp, tức là thân làm việc lành, miệng nói lời lành, ý nghĩ điều lành. Lợi hành là những hành động, việc làm (của mình) có ích cho người khác hoặc đem lại lợi lạc cho người khác. Nhiếp hóa, cảm hóa người bằng hành động có lợi lạc một cách chính đáng cho người gọi là Lợi hành nhiếp.

    Đồng sự nhiếp cũng gọi là đồng sự tùy phương tiện với ý nghĩa là gần gũi chúng sinh để chia sẻ vui buồn của họ. Cụ thể hơn, đồng là cùng chung, giống; đồng sự nhiếp là cùng chung công việc, cùng chung môi trường sống, sinh hoạt, làm việc với mọi người, như mọi người để cảm hóa, nhiếp phục họ.

    III. Phân tích nội dung:

    Theo kinh Tăng Chi, Tứ nhiếp như là bốn phương pháp nhiếp hóa, thu phục người khác của người làm công tác lãnh đạo; cụ thể, gia chủ Hatthaka nhờ khéo léo vận dụng tứ nhiếp pháp mà thành công trong việc lãnh đạo chúng cư sĩ 500 người. Cần lưu ý rằng các kinh Tăng Nhất A-hàm, kinh Tạp A-hàm đều có đề cập đến tứ nhiếp pháp, vì đây là bốn phương cách phổ biến được áp dụng trong công tác hoằng pháp lợi sanh. Mục đích của chúng là đem lại lợi ích, an lạc cho người khác, từ vật chất đến tinh thần; nghĩa là cho người những gì chính đáng mà người muốn, để dẫn dụ người nghe theo, đi theo ý hướng mà mình cho là tốt đẹp cho họ.

    Mặc dầu cách giải thích về từng phương pháp nhiếp hóa trong các kinh, luận cũng có một vài khác biệt; nhưng về căn bản, những cái khác đó bổ sung những ý nghĩa khác nhau cho nội hàm khái niệm Tứ nhiếp pháp. Dưới đây là một vài dẫn chứng:

    Trong kinh Tạp A-hàm, Đức Phật dạy các Tỳ kheo: “Bố thí tối thắng, đó là pháp thí. Ái ngữ tối thắng, là khiến thiện nam tử thích nghe, nói pháp đúng lúc. Hành lợi tối thắng là đối với người không có tín khiến có tín, xác lập trên tín; đối với người học giới thì xác lập bằng tịnh giới; đối với người bỏn xẻn thì bằng bố thí; đối với người ác trí huệ thì bằng chánh trí mà xác lập. Đồng lợi tối thắng, là nếu A la hán thì trao cho người quả A la hán. A na hàm thì trao cho người quả A na hàm. Tư đà hàm thì trao cho người quả Tư đà hàm. Tu đà hoàn thì trao cho người quả Tu đà hoàn. Người tịnh giới thì trao người bằng tịnh giới”.

    Kinh Đại Tập ghi “…Đối với Bồ tát Tứ nhiếp cũng không thể tận. Sao gọi là Bốn? Một là Bố thí, hai là Ái ngữ, ba là Lợi hành, bốn là Đồng sự.

    - Sao gọi là Bố thí? Thí có hai loại: Tài thí và Pháp thí.

    - Sao gọi là Ái ngữ? Đối với người cầu tài và người nghe pháp phải dùng lời nói nhu hòa.

    - Sao gọi là Lợi hành? Là đối với người cầu tài và nghe pháp phải tùy theo những gì họ cầu mà đáp ứng đầy đủ.

    - Sao gọi là Đồng lợi? Là đối với người cầu tài và pháp phải dùng pháp Đại thừa tự lợi khiến an chỉ họ”.

    Luận Đại Trí Độ cũng dạy rằng: “…Ta dùng mắt Phật xem thấy các Bồ tát trong mười phương nhiều như cát sông Hằng lấy bốn việc nhiếp thủ chúng sinh. Bốn việc là: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Có hai cách bố thí nhiếp thủ chúng sinh là tài thí và pháp thí. Pháp thí có hai là pháp thí thế gian và xuất thế gian. Làm sao Bồ tát dùng ái ngữ nhiếp thủ chúng sanh? Bồ tát lấy Ba la mật vì chúng sanh thuyết pháp, nói rằng: các ngươi tu sáu Ba la mật, thu nhiếp được hết thảy thiện pháp. Làm sao Bồ tát lấy lợi hành nhiếp thủ chúng sinh? Đó là Bồ tát thường dạy chúng sanh khiến tu sáu Ba la mật. Làm sao Bồ tát lấy đồng sự nhiếp thủ chúng sinh? Đó là Bồ tát dùng sức năm thần thông, các cách biến hóa đi vào trong năm đường cùng sự việc với chúng sanh”.

    Tên các nhiếp trong bốn nhiếp ở các kinh, luận không có gì để nói thêm, nhưng cách giải thích nội dung của các đề mục trong đó có những điều cần lưu ý:

    - Bố thí trong bố thí nhiếp: Luôn chỉ mang hai nghĩa là tài thí và pháp thí (không có tách biệt thêm ý nghĩa vô úy thí như thường gặp ở các sách Phật học khác).

    - Ái ngữ trong ái ngữ nhiếp: Là lời nói pháp nhu hòa, đúng lúc khiến người khác thích nghe pháp, hành pháp. Với Luận Đại Trí Độ, ái ngữ là lời dạy về pháp tu lục độ Ba la mật bằng tinh thần Ba la mật của Bồ tát.

    - Lợi hành trong Lợi hành nhiếp có nhiều cách:

    1. Tùy trường hợp, xét thấy chúng sanh mắc phải tà pháp nào thì dạy cho họ chánh pháp đối trị tương ưng để cho họ được lợi lạc.

    2. Chúng sanh mong cầu cái gì, từ tài vật đến giáo pháp đều đáp ứng.

    3. Luận Đại Trí Độ là dạy cho chúng sanh tu sáu Ba la mật.

    - Đồng sự trong đồng sự nhiếp, còn gọi là đồng lợi, nghĩa là mình được lợi lạc từ quả vị nào thì cũng khiến cho chúng sanh cũng đạt đến quả vị đó. Theo Luận Đại Trí Độ, “dùng sức năm thần thông, các cách biến hóa đi vào trong năm đường cùng sự việc với chúng sanh”.

    Hầu như cách cắt nghĩa của các sách Phật học tuy dùng một ý nghĩa nhưng được hiểu ở một tầng bậc khác, thấp hơn, dễ thi hành hơn. Ví dụ, phẩm Gia chủ Hatthaka trong kinh Tăng Chi Bộ giải thích khái niệm Tứ nhiếp rằng:

    “Đối với những ai cần sự giúp đỡ về vật chất, khiến thức, an ủi, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm tu học thì Hatthaka áp dụng nguyên tắc “Bố thí” (…). Đối với những ai tâm lý thích “Ái ngữ”, thích nghe những lời nói dịu dàng, hòa ái dễ nghe, thành thực, khôn khéo thì Hatthaka dùng “Ái ngữ” (…). Đối với những ai cần “Lợi hành”, cần khích lệ, cần giúp đỡ trong công việc thì Hatthaka đáp ứng họ (…). Với những tâm lý nào cần phải cùng làm việc, cùng ăn, cùng ở, v.v. cần có thời gian gần gũi, thì Hatthaka áp dụng nguyên tắc “Đồng sự”.

    Tài liệu tu học Ngành thiếu, bậc sơ thiện của Gia đình Phật tử giải thích Bố thí nhiếp gồm: tài thí, pháp thí, vô úy thí (…). Ái ngữ là đối xử với người bằng sự mềm dẻo xuất phát từ một thiện ý thành thực cảm hóa. Dùng lời nói dịu dàng, hòa ái, khiêm tốn, khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ cảm mến (…). Lợi hành là hành vi giúp người đạt được mục đích cao cả có lợi cho người, không so tính thiệt hơn, nếu không muốn nói hy sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích cho người khác (…). Đồng sự là phục vụ công việc lợi ích chung hay những phận sự xã hội mà mình phải gánh vác. Đồng sự còn có nghĩa là cùng hội cùng thuyền với người nhưng với mục đích cảm hóa họ.

    Nhìn chung, khái niệm Tứ nhiếp pháp có nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng hoằng pháp; biểu hiện sự gần gũi, chia sẻ với mọi người bằng nhiều phương cách. Lối sống này đem tới cho người ta những gì mà họ mong muốn, đáp ứng những nhu cầu để cảm hóa người ta đến gần mình, cảm mến mình, cuối cùng thừa nhận sự dẫn dắt của mình…

    Có thể nói rằng bốn phương pháp nhiếp hóa chính là “bốn cách để đắc nhân tâm”; bởi vì đắc nhân tâm và tứ nhiếp pháp đều là những cách cư xử, ứng xử, giao tiếp, hành động làm đẹp lòng người, thu phục lòng người. Với sự nghiệp hoằng dương Phật pháp, bốn pháp nhiếp hóa chính là kỹ năng hoằng pháp hay tinh thần phương tiện thiện xảo để chuyển hóa nhân tâm và đưa họ vào chính đạo.

    Sự nghiệp của người Phật tử, đặc biệt là tu sĩ, gồm hai phương diện: tự lợi và lợi tha. Đem gì đến cho người, dù là cho của cải vật chất, giáo pháp (Bố thí nhiếp) hay lời nói nhu hòa dễ nghe (Ái ngữ nhiếp), làm việc lợi cho người (Lợi hành nhiếp) hay cùng người hòa nhập trong mọi sinh hoạt (Đồng sự nhiếp)… là hướng đến mục đích chung để người có thiện cảm, từ đó người đến gần mình mới dễ nói cho người nghe và người theo. Tuy nhiên, muốn nói cho người nghe thì phải nghe người nói; nghĩa là phải có sự lắng nghe, thấu hiểu lẫn nhau. Chừng nào đối tượng nhiếp hóa đặt niềm tin vào người nhiếp hóa thì lúc đó sự nhiếp hóa đặt niềm tin vào người nhiếp hóa thì lúc đó sự nghiệp nhiếp hóa mới thật sự đưa đến thành tựu.

    Phục vụ chúng sanh, phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật. Điều đó có nghĩa rằng: bi tâm của chư Phật luôn hướng về chúng sanh, dõi theo chúng sanh không hề tạm bỏ. Kế tục tâm nguyện chư Phật, chư tổ, hành giả tu đạo Bồ-tát phát nguyện độ tận chúng sanh bằng đủ phương cách như Tứ nhiếp trước hết vì đại bi tâm, không phải trước hết vì để thành tựu tự lợi. Tuy nhiên, vì lợi tha thành tựu tự lợi nên Tứ nhiếp phpas thường bị nhìn nhận đơn thuần như là những phương pháp đắc nhân tâm. Nghĩa là làm hài lòng người khác, phục vụ, phụng sự người khác để đứng trên mọi người: được danh, được lợi. Ngược lại, nhiếp phục mọi người, dẫn dắt mọi người để đưa người về trên con đường sáng, con đường an vui, chia sẻ với người hạnh phúc đầy đủ về vật chất, tình thân và niềm vui đồng lợi.

    Tóm lại, Tứ nhiếp pháp là những pháp môn hay kỹ năng thiện xảo để truyền bá Phật pháp vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc cho chúng sanh. Nhưng muốn có được kết quả tốt đẹp trong công tác lợi sanh, trước hết, hành giả phải tự hoàn thiện nhân cách và tâm bồ đề của tự thân; bởi vì khi có tâm bồ đề dẫn dắt, dù sử dụng kỹ xảo, kỹ năng nào cũng là việc tốt lành, chơn chánh và thiện xảo. Còn ngượi lại, như Kinh Hoa Nghiêm nói: “Quên mất tâm bồ đề thì làm việc tốt lành nào cũng đều là hành động của ma” vậy.

    IV. Ứng dụng thực tiễn:

    Trước hết, pháp Tứ nhiếp giúp hành giả thành tựu công hạnh tự lợi, lợi tha để dần dần tiến vào Phật địa. Kinh Hoa Nghiêm giới thiệu Bồ tát hành Tứ nhiếp pháp trải qua 44 quả vị trước khi đi vào Thập địa, cụ thể là:

    Thập tín: Hành giả hành Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh hành Bố thí nhiếp.

    Thập hạnh: Hành giả hành Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh hành Ái ngữ nhiếp.

    Thập Trụ: Hành giả hành Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh hành Lợi hành nhiếp.

    Thập hồi hướng: Hành giả tiếp tục công phu Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh hành Đồng sự nhiếp.

    Như vậy, Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh của Tứ nhiếp pháp là những pháp tu, pháp hành rất rõ ràng, rất thực tiễn. Đã là người xuất gia, ai cũng đều mang trong mình hạnh nguyện lợi tha, sửa đổi bản thân, hoàn thiện nhân cách là yêu cầu đầu tiên đối với hành giả phát nguyện hành hạnh lợi tha đó.

    Muốn nhiếp hóa người bằng phương pháp bố thí, nghĩa là đem cho người thứ vật chất người cần như cơm ăn áo mặc, túp lều che nắng mưa hay chi phí thuốc men điều trị bệnh cho đến phương pháp ứng dụng, điều trị cái khổ của tâm, đem lại sự an lạc giải thoát cho tâm v.v… thì bản thân hành giả phải biết cân đối chi dùng, biết ưu tiên các khoản chi dùng. Tính xan tham, keo lẫn sẽ dần được đối trị, được thay thế bằng tinh thần xả bỏ, biết đủ, biết chia sẻ…Người tu hạnh Bố thí không phạm vào tội lấy của không cho, không nhận của phi pháp.

    Khi muốn nhiếp hóa người bằng phương pháp ái ngữ, hành giả cần phải dùng lời nói hòa ái, dễ nghe thay cho lời nói thô ác hại người; qua đó, khẩu nghiệp của hành giả được cải thiện, giữ gìn.

    Muốn nhiếp hóa người bằng phương pháp lợi hành, người nhiếp hóa cần phải mở rộng lòng để vì người và nghĩ cho người. Lúc nào cũng mang tâm niệm làm việc nghĩa lợi, nhiêu ích an vui vì người, cho người. Nghiệp của ý và nghiệp của thân nhờ vậy mà thăng tiến.

    Muốn nhiếp hóa người bằng phương pháp Đồng sự, yêu cầu đối với người nhiếp hóa là phải tỏ ra mẫu mực từ nhiều mặt. Đối với công việc thì giỏi, tốt chuyên môn, siêng năng tận tụy; tinh thần tập thể luôn được đề cao, ý thức.

    Tóm lại, mỗi phương pháp nhiếp hóa tuy chú trọng đến đối tượng được nhiếp hóa là chủ yếu nhưng trước hết vẫn bắt đầu từ bản thân người nhiếp hóa. Tự làm đẹp bản thân mình rồi chính cái đẹp đó cảm hóa, nhiếp phục người khác.

    Nếu biết áp dụng bốn phương pháp nhiếp hóa vào đời sống cá nhân, người Phật tử tại gia cũng có thể thành tựu được những thành quả tương tự. Trước hết, tự bản thân được trau dồi, tập luyện từ ý nghĩ, lời nói đến việc làm. Nghĩa là ba nghiệp thân, miệng, ý trong tương tác với môi trường xung quanh, mọi người xung quanh là luôn hướng tới sự tạo tác thiện nghiệp. Cùng sống đời sống thế tục nhưng nếu ai biết đem bốn phương pháp này áp dụng vào trong cuộc sống của tự thân để làm lợi mình, lợi người thì được mọi người yêu mến, nể vì; đặc biệt, nếu là người làm công tác lãnh đạo thì sẽ có được sự tuân thủ, trung thành và ủng hộ của cấp dưới nên dễ thành tựu trong mọi công việc. Đơn cử với Ái ngữ nhiếp, “Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói lời với từ tâm”. Cuộc sống vốn nhiều vất vả gian lao, người Phật tử tại gia thường phải lo lắng với chuyện mưu sinh nên rất dễ dàng nổi tham sân si vì những nguyên nhân khác nhau. Thấu hiru được như thế, khi gặp ai nổi giận dù có nguyên do hay vô cớ thì người ta vẫn có thể dùng lời nói nhu hòa để đáp lại. Đấu tranh khởi sinh vì xung đột, khiêu khích của lời nói, hậu quả của lời nói trái với ái ngữ có thể gây ra vô số tình huống nguy hiểm không thể lường. Trái lại, ái ngữ liên hệ trực tiếp với chánh ngữ và chánh nghiệp; ái ngữ là nói lời có từ tâm nên có khả năng tạo ra sự hiểu biết, cảm thông, dễ dàng đem đến lợi lạc cho mình và cho người.

    Thực hành bốn phương pháp nhiếp hóa, người Phật tử tại gai sẽ biết chia sẻ với mọi thành viên trong gia đình, xóm làng, xã hội; cho đến người nghèo khổ quanh mình những gì mình có. Một gia đình có cha mẹ, vợ con, anh em biết dùng lời dễ nghe để nói cho nhau nghe, mỗi người bớt đi một chút cá biệt bản ngã của mình, nhường nhịn nhau, giúp đỡ lẫn nhau trong từng vấn đề gặp phải của cuộc sống thì người Phật tử đó đã tạo dựng được một cuộc sống gia đình an lành, hạnh phúc. Tuy sinh ra trong cùng một gia đình nhưng bản tính mỗi người mỗi khác, vì vậy nếu mọi người biết ứng dụng bốn phương pháp nhiếp hóa vào trong sinh hoạt hằng ngày sẽ là cách để gắn kết, cảm hóa, thay đổi tính cách các thành viên trong gia đình. Rõ ràng, bốn phương pháp nhiếp hóa này chính là cách hun đúc, giữ gìn mối tình thân của gia đình.

    Do vậy, đối với bản thân mỗi hành giả, thực hành Tứ nhiếp để lợi tha là cách giới hạn ba nghiệp thân, khẩu, ý khởi tạo các nghiệp xấu ác, tạo năng lực hành thiện độ sanh, giúp hành giả tấn tu đạo nghiệp, hoàn thành tự lợi cho bản thân. Nếu biết ứng dụng bốn phương pháp nhiếp hóa vào trong cuộc sống, người Phật tử tại gia có thể kiến tạo một “thế giới Tịnh độ” ngay tại cõi nhân gian này.

    Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp lợi tha nhiếp hóa, cảm hóa chúng sanh. Tùy vào căn cơ, trình độ, tính cách, nhu cầu của chúng sanh để đáp ứng và lựa chọn phương pháp áp dụng thích hợp mới có thể đem lại thành tựu tốt nhất cho công cuộc hoằng pháp lợi sanh từ Tứ nhiếp.

    Người Phật tử dù là xuất gia hay tại gia mang hạnh nguyện lợi tha đi vào đời đều ở trong lý tưởng hành Bồ tát đạo. Tứ nhiếp pháp là kỹ năng hoằng pháp, là phương tiện thiện xảo giúp hành giả hành Bồ tát đạo một cách đắc lực trong việc hành hạnh lợi tha và nhiếp phục, cảm hóa chúng sanh và những người xung quanh.

    Bốn pháp nhiếp hóa dùng chung cho cả giới xuất gia và tại gia. Vận dụng Tứ nhiếp vào đời sống cá nhân (người xuất gia và tại gia), vào công tác lãnh đạo trong tương tác với người xung quanh, với đủ thứ tâm lý, tính cách, nhu cầu; với đoàn thể, xã hội nhiều chủ trường, thay đổi…mới thấy khả năng ứng dụng của Tứ nhiếp rất sâu rộng và thiết thực.

    Nhiếp hóa mình là tự lợi, nhiếp hóa người là lợi tha. Tự lợi, lợi tha đề phải đặt dưới sự dẫn dắt của tâm bồ đề. Thành tựu tự lợi, lợi tha từ Tứ nhiếp chính là bước đầu khai mở quả vị Thập địa.

    Câu hỏi hướng dẫn học tập:

    1. Thế nào là Tứ nhiếp Pháp? Tứ nhiếp pháp bao gồm những gì?

    2. Thử chỉ ra sự khác nhau trong việc nêu khái niệm của Tứ nhiếp.

    3. Vì sao nói Tứ nhiếp pháp là pháp tự lợi, lợi tha?

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

Thích Thích 0
Không thích Không thích 0
Yêu Yêu 0
Buồn cười Buồn cười 0
Ấn tượng Ấn tượng 0
Thất vọng Thất vọng 0
Không vui Không vui 0
Văn Hoá Phật Giáo

Đạo tràng Văn hoá Phật giáo "Hương Sắc Bồ Đề" là nhóm phật tử, nghệ sĩ, nhân sĩ, trí thức yêu mến Văn hóa Phật giáo, cùng tham gia học tập Phật đạo và lan tỏa Văn hóa Phật giáo vào đời sống thông qua các loại hình nghệ thuật: văn học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, biểu diễn, điện ảnh, với tinh thần Sáng Đạo Trong Đời - Mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất; Nội dung: TUỆ QUANG - Biên tập: LÝ HUYỀN KHÔNG

Bình luận (0)

User